Vốn lưu động là gì? Ứng dụng phân tích cổ phiếu niêm yết tại Việt Nam

Vốn lưu động (“working capital” hoặc viết tắt là “NWC“) là khái niệm gần gũi với những chuyên gia tài chính nhưng thường bị lãng quên bởi những nhà đầu tư chứng khoán. Nếu là một nhà đầu tư gia trị, bạn cần biết vốn lưu động là gì và tầm quan trọng của nó đối với hoạt động cơ bản của doanh nghiệp.

Vốn lưu động là gì?

Vốn lưu động (“working capital”), còn được gọi là vốn lưu động thuần hoặc vốn lưu động ròng (net working capital, viết tắt là “NWC”) là thước đo tài chính thể hiện nguồn lực ngắn hạn để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh hằng ngày của doanh nghiệp như trả lương cho nhân viên, trả trước các chi phí và tài trợ cho tài sản lưu động (current assets) như mua nguyên vật liệu, hàng tồn kho và đầu tư tài chính ngắn hạn.

Công thức tính vốn lưu động như sau:

von-luu-dong-anh-01

Có thể coi working capital là thước đo năng lực thanh toán và sức khỏe tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp. Tại sao?

Vì khi phân tích working capital, bạn đang xét đến tài sản ngắn hạn, là loại tài sản có tính thanh khoản cao (dễ chuyển đổi thành tiền mặt) hơn so với tài sản dài hạn và còn cẩn trọng hơn nữa là loại trừ đi nợ phải trả ngắn hạn của doanh nghiệp.

bạn có thể tìm kiếm số liệu “tài sản ngắn hạn” và “nợ ngắn hạn” trên Bảng cần đối kế toán (Báo cáo tài chính) hoặc trên vietstock.vn

Để đánh giá mức độ an toàn hay rủi ro tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp, bạn có thể kết hợp phân tích working capital với nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán.

Đọc thêm: Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán

Phân tích 3 trường hợp của vốn lưu động

Một doanh nghiệp có lợi nhuận cao đến đâu, nhưng nếu không đáp ứng đủ vốn lưu động cũng sẽ khiến việc kinh doanh bị gián đoạn và nghiêm trọng hơn có thể dẫn tới phá sản.

Xem xét mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn cho phép nhà quản trị đánh giá được tình hình tài trợ tài sản lưu động của doanh nghiệp, trên cơ sở đó sẽ có những điều chỉnh và lựa chọn chính sách sử NWC thích hợp hơn. Còn đối với những nhà đầu tư, NWC được coi như là thước đo sức khỏe tài chính của doanh nghiệp.

Trường hợp 1: NWC > 0

von-luu-dong-anh-03

Vốn lưu động ròng dương khi tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ phải trả ngắn hạn.

Về lý thuyết, NWC > 0 thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được đảm bảo ổn định vì vốn lưu động hoàn toàn đủ để tài trợ cho tài sản lưu động và các chi phí khác để đáp ứng hoạt động kinh doanh.

Trường hợp 2: NWC < 0

von-luu-dong-anh-04

Vốn lưu động ròng âm khi tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thấp hơn nợ ngắn hạn. Nếu NWC thường xuyên < 0, có thể doanh nghiệp đang mua sắm tài sản dài hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn, đây là dấu hiệu của cán cân thanh toán đã mất thăng bằng, dù có chuyển hóa hết tài sản ngắn hạn thành tiền mặt thì vẫn không đủ để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi đến hạn.

Để tránh tình trạng thiếu vốn lưu động dẫn đến phá sản, một số doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán thường huy động thêm vốn thông qua phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu nhằm cầm cự trước các khoản nợ sắp đến hạn. Hành vi này rất xấu vì nếu như tình hình kinh doanh sau huy động vốn không khởi sắc, doanh nghiệp sẽ chịu thêm áp lực từ cổ đông và các khoản nợ mới.

Đối với doanh nghiệp sản xuất công nghiệp (có hàng tồn kho lớn) và doanh nghiệp xây dựng (có khoản phải thu khách hàng lớn), NWC < 0 là dấu hiệu tương đối nghiêm trọng.

Tuy nhiên, một số ngành nghề đặc thù hoặc mô hình kinh doanh có thể duy trì NWC âm mà không đáng lo ngại, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu ở nội dung bên dưới.

Trường hợp 3: NWC = 0

von-luu-dong-anh-05

Cách tài trợ này cho thấy cán cân thanh toán cân bằng, tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn được tài trợ tương ứng với nguồn vốn của nó.

Tuy nhiên trường hợp này rất khó xảy ra vì lãnh đạo doanh nghiệp không thể nào chi li, cân đối chính xác từng đồng tiền trong tài sản ngắn hạn để khớp với số nợ ngắn hạn được.

Vốn lưu động bao nhiêu là đủ?

Theo lý thuyết, NWC > 0 là tích cực và NWC < 0 là tiêu cực nếu xem xét dưới trạng thái tĩnh. Thực tế, cách thức sử dụng vốn lưu động sẽ thích hợp đối với từng thời điểm khác nhau. Doanh nghiệp có thể sử dụng tài sản ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn (NWC < 0) đồng thời tìm cách tạm hoãn các nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn, nhưng chỉ nên duy trì trạng thái này trong một khoảng thời gian nhất định và không biến việc này thành tiền lệ xấu.

Chất lượng vốn lưu động của CTCP Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình

NWC > 0 chưa hẳn đã tốt nếu như hàng tồn kho và khoản phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng quá lớn trong cơ cấu tài sản ngắn hạn, thậm chí khả năng chuyển hóa thành tiền mặt rất thấp. Khi đó bạn phải xem xét đến cấu trúc hàng tồn kho, khoản phải thu và hệ số vòng quay tương ứng.

working-capital-02

Thoạt nhìn, NWC của CTCP Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình (HBC) từ 2017 đến 2020 đều > 0. Tuy nhiên nếu bạn vội đánh giá sức khỏe tài chính của HBC tốt thì sẽ khá sai lầm vì: (1) Tổng “phải thu ngắn hạn của khách hàng”“phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng” khoảng 9,5 đến 10 nghìn tỷ đồng, chiếm ~ 70% tài sản ngắn hạn; (2) Chất lượng các khoản phải thu này không cao vì HBC đã ký hợp đồng xây dựng với nhiều chủ đầu tư thiếu năng lực tài chính, một phần được thể hiện qua vòng quay và thời gian thu tiền khách hàng chậm và lâu; (3) Một số khoản phải thu được sử dụng như tài sản thế chấp ngân hàng để HBC vay nợ ngắn hạn; (4) Khả năng thanh toán lãi vay (interest coverage) cực thấp, trong khi vay nợ của HBC chủ yếu là ngắn hạn, khoảng 4,9 nghìn tỷ đồng trong năm 2020.

Như vậy khoản phải thu khách hàng có tác động lớn nhất đến chất lượng vốn lưu động của HBC nói riêng và của các nhà thầu xây dựng nói chung như CTD, ACC, C47, FCN, SCG.

Khám phá: Hệ số vòng quay hàng tồn kho và khoản phải thu là gì?

Chất lượng vốn lưu động của CTCP Viễn thông FPT

NWC < 0 có luôn là dấu hiệu tiêu cực? Đối với ngành viễn thông, internet hoặc truyền hình với lợi thế khách hàng trả trước tiền thì NWC < 0 (có thể) là một câu chuyện khác.

woking-capital-01

CTCP Viễn thông FPT (FOX) sở hữu lợi thế của một doanh nghiệp viễn thông là khách hàng phải thanh toán tiền trước khi FOX cung cấp dịch vụ, vì thế các khoản phải thu khách hàng rất thấp (hoặc không có), tiền thanh toán được ghi nhận ngay vào “tiền và các khoản tương đương tiền”. Với đặc thù có tiền mà không cần phải đòi nợ khách hàng, tiền mặt sẽ được chuyển khỏi “tài sản ngắn hạn” rất nhanh chóng để đầu tư sang “tài sản dài hạn”. Do đó vốn lưu động ròng của FOX thường xuyên < 0.

Các doanh nghiệp viễn thông như FOX, VTC, VGI, Viettel, VNPT có khả năng “hút” tiền mặt rất nhanh bằng việc tạo ra các chương trình khuyến mãi, kích thích người tiêu dùng nạp thêm tiền, mua gói dịch vụ trả trước. Dòng tiền mới này sẽ được dùng để đầu tư cho tài sản cố định.

Ngoài ra, bạn có thể tìm hiểu thêm về một số doanh nghiệp thương mại/bán lẻ như MWG, PNJ có thể nợ được tiền nhà cung cấp và thu tiền ngay từ khách hàng hoặc một số doanh nghiệp bất động sản lớn có thể chiếm dụng vốn từ tiền đặt cọc trước của người mua nhà như VHM, nếu như họ quản trị hàng tồn kho tốt (thông qua hệ số vòng quay) thì NWC < 0 không phải là điều đáng ngại.

Hệ số vòng quay vốn lưu động

von-luu-dong-anh-08

Vốn lưu động luân chuyển trong kinh doanh được bắt đầu từ trạng thái tiền mặt chuyển qua trạng thái vật chất (mua sắm hàng tồn kho, tài sản cố định,…) sau đó trở lại trạng thái tiền mặt ban đầu (bán hàng và thu tiền). Để đạt được trạng thái tiền thành tiền, doanh nghiệp cần 3 giai đoạn gồm dự trữ cho sản xuất, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Năng lực luân chuyển vốn lưu động được đo lường qua hệ số vòng quay vốn lưu động (working capital turnover).

Nếu hệ số vòng quay vốn lưu động của một doanh nghiệp cao hơn trung bình ngành thì đây là lợi thế cạnh tranh. Nếu hệ số này tăng qua từng năm thì chứng tỏ năng lực quản trị vốn lưu động được cải thiện.

Bạn có thể tham khảo thêm công thức thời gian một vòng quay vốn lưu động (kỳ luân chuyển vốn lưu động):

von-luu-dong-anh-09

Chỉ tiêu này trả lời cho câu hỏi: “để thực hiện 1 vòng quay vốn lưu đồng cần bao nhiêu thời gian?”. Kỳ luân chuyển càng ngắn thì vốn lưu động luân chuyển càng nhanh, hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại.

Hệ số vòng quay và kỳ luân chuyển vốn lưu động không nên áp dụng để phân tích những doanh nghiệp có mô hình/ngành nghề đặc thù cho phép duy trì NWC < 0.

Doclaptaichinh.vn đã có một bài viết tổng hợp hệ số vòng quay, bạn có thể đọc thêm tại đây.

Thay đổi vốn lưu động

Thay đổi vốn lưu động (change in working capital) đơn giản là sự chênh lệch giữa vốn lưu động của 2 năm/kỳ kinh doanh liền kề:

von-luu-dong-anh-10

Kết quả chênh lệch vốn lưu động thường được sử dụng trong các phương pháp định giá doanh nghiệp dựa theo dòng tiền như dòng tiền chiết khấu (discounted cash flow).

Thay đổi vốn lưu động khi sử dụng để tính định giá dòng tiền thì sẽ loại bỏ tiền mặt và tiền gửi ngắn hạn ra (gọi là “change in non-cash working capital”), vì phần tiền mặt và tiền gửi là tài sản thanh khoản cao nhất, có thể được sử dụng lập tức để thanh toán các nghĩa vụ nợ phải trả. Tuy nhiên, phần tiền mặt và tiền gửi sẽ được tính hoàn lại để ra giá trị doanh nghiệp cuối cùng.

Một lý do nữa để loại bỏ tiền mặt ra khỏi chênh lệch vốn lưu động giúp nhà đầu tư nhìn sâu hơn vào chênh lệch hàng tồn kho và khoản phải thu giữa các năm, qua đó nhà đầu tư có thể:

  • Nhận ra những bất thường như khoản phải thu tồn tại quá dài khi hai doanh nghiệp có mối quan hệ liên đới giao dịch với nhau
  • Tồn đọng hàng tồn kho do chu kỳ kinh tế thay đổi hoặc năng lực bán hàng và quản trị hàng tồn kho kém.

Dưới đây là bảng liệt kê “tài sản ngắn hạn” và “nợ ngắn hạn” của CTCP Tập đoàn Đất Xanh (DXG) đã được bỏ bớt một vài hạng mục nhỏ không cần thiết, việc này sẽ tùy theo quan điểm và nhu cầu của người phân tích.

von-luu-dong-anh-11

Sau khi đã loại bỏ tiền mặt và các khoản tiền gửi ngắn hạn, NWC của DXG vẫn “có vẻ” tốt khi lớn hơn nợ ngắn hạn rất nhiều. Các khoản phải thu được giảm bớt, tuy nhiên điểm tiêu cực nằm ở hàng tồn kho. Hàng tồn kho tăng mạnh lên hơn 10 nghìn tỷ với những dự án đã hoàn thiện nhưng không bán được và những dự án đang xây dựng dở dang cũng “đứng hình”. Kẹt hàng tồn kho là lý do chính khiến DXG có dòng tiền âm và báo lỗ trong năm 2020.

Nguyên nhân xảy ra đối với hàng tồn kho của DXG (có thể) đến từ 2 lý do: (1) Sức tiêu thụ của người dân bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19; (2) Năng lực bán hàng và triển khai dự án của DXG gặp vấn đề.

Tổng kết

Đối với những doanh nghiệp có mô hình/ngành nghề đặc thù duy trì NWC < 0 như đã đề cập ở trên thì việc phân tích NWC không quá quan trọng, tuy nhiên nếu vốn lưu động ròng liên tục âm nặng hơn qua từng năm thì bạn cần có cái nhìn cẩn trọng hơn.

Đối với những doanh nghiệp khác (chiếm đa số), vốn lưu động ròng dương vẫn là một dấu hiệu tốt để bạn đánh giá bước đầu một cổ phiếu. Tuy nhiên hãy luôn đặt dấu hỏi lớn về hàng tồn kho và khoản phải thu, vì chỉ khi tài sản được chuyển thành tiền mặt thì đó mới chính thức trở thành dòng máu nuôi sống doanh nghiệp.

Bài tiếp theo: Dòng tiền thuần là gì? Tại sao dòng tiền lại được gọi là dòng máu của doanh nghiệp?

0 0 votes
Đánh giá bài viết
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
Xem tất cả bình luận

Related Posts

Begin typing your search term above and press enter to search. Press ESC to cancel.

Back To Top
4
0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x